Vay tiêu dùng trả góp tại ngân hàng và cách tính lãi

Vay tiêu dùng trả góp tại ngân hàng và cách tính lãi

Bên cạnh lãi suất vay, một trong những vấn đề quan trọng nhất mà bất kỳ khách hàng nào khi đi vay tiêu dùng trả góp cũng cần nắm vững đó là cách thức tính lãi và kiến thức vay vồn
Nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay tiêu dùng trả góp của khách hàng, các ngân hàng thương mại (NHTM) đang cạnh tranh nhau quyết liệt bằng việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, kéo dài thời hạn trả nợ, mức lãi suất cho vay hấp dẫn… Tuy nhiên, thực tế lãi suất khách hàng phải trả khi tiếp cận khoản vay này lớn hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng niêm yết. Vì vậy, khách hàng nên tìm hiểu rõ 2 cách tính lãi suất cho vay tiêu dùng trả góp của các ngân hàng để hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề này. Chính vì thế mà việc được tư vấn vay vốn là hết sức quan trọng.

Phương pháp tính lãi đơn

Theo phương pháp này, vốn gốc của người đi vay trả góp phải trả từng định kỳ, được tính đều nhau bằng cách lấy vốn ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả mỗi kỳ được tính trên số tiền khách hàng thực sự nợ ngân hàng. Chẳng hạn hiện nay, mức lãi suất cho vay tiêu dùng trả góp tại NHTM X đưa ra là 14%/năm và NHTM Y là 10%/năm. Thoạt nhìn, khách hàng sẽ chọn vay vốn tại NHTM Y, do mức lãi suất cho vay của ngân hàng này thấp hơn NHTM X, tức là số tiền khách hàng phải trả hàng tháng thấp hơn ngân hàng X. Tuy nhiên, khi đến kỳ hạn trả nợ, nhiều khách hàng không khỏi ngỡ ngàng với số tiền lãi thực tế phải trả lớn hơn lãi suất niêm yết. thebank_b1cachtinhlaivaytieudungtragoptainganhangthuongmaihiennay_1490257230

Phương pháp tính lãi đơn

Ví dụ, ông A đến NHTM X làm thủ tục vay tiêu dùng 400 triệu đồng trong 4 năm để mua sắm nội thất cho gia đình. Sau khi thẩm định, cán bộ tín dụng của ngân hàng X đồng ý cho ông A vay với lãi suất 14%/năm. Kỳ hạn trả nợ là 1 năm, số tiền phải trả lãi được tính theo phương pháp lãi đơn (bảng 1). Bảng 1 cho thấy, lãi được tính trên dư nợ còn lại của khách hàng, tiền lãi sẽ giảm dần theo thời gian. Phương pháp tính lãi đơn tuân theo nguyên tắc, khách hàng nợ bao nhiêu lãi trả bấy nhiêu. Điều này liên quan đến lãi suất hiệu dụng: Với mức lãi suất danh nghĩa 14%/năm của ngân hàng X niêm yết thì lãi suất hiệu dụng cũng đúng bằng 14%/năm. Tuy nhiên, phương pháp lãi đơn này có một nhược điểm là nguồn trả nợ của khách hàng vay tiêu dùng chủ yếu là từ lương và thu nhập định kỳ, đây là nguồn thu nhập đều qua các kỳ hạn. Với phương pháp tính lãi này, áp lực trả lãi cho khách hàng ở những kỳ đầu tiên là rất lớn, gây căng thẳng về tài chính cho khách hàng và gây khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ cho ngân hàng.

Phương pháp tính lãi gộp

Để khắc phục nhược điểm của cách tính lãi đơn trên, các NHTM đã đưa ra phương pháp tính lãi thứ hai (phương pháp gộp). Theo phương pháp gộp, lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi định kỳ. Cụ thể, tính theo công thức sau: T = (V+L)/N Với L= V x R x N Trong đó: T: Số tiền phải thanh toán cho ngân hàng ở mỗi kỳ hạn L: Chi phí tài trợ, bao gồm lãi vay phải thanh toán và các chi phí khác có liên quan V: Vốn gốc N: Số kỳ hạn R: Lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn thebank_b2cachtinhlaivaytieudungtragoptainganhangthuongmaihiennay_1490258318

Phương pháp tính lãi gộp

Với trường hợp trên, giả định ông A không vay vốn tại NHTM X mà vay vốn tại NHTM Y với mức lãi suất thấp hơn là 10%/năm. NHTM Y tính lãi phải trả cho ông A theo phương pháp gộp. Áp dụng theo công thức trên ta có: L = 400 x 10% x 4 = 160 triệu đồng. Như vậy, tổng số lãi ông X phải trả cho NHTM Y là 160 triệu đồng, cao hơn 20 triệu đồng so với NHTM X (mỗi kỳ phải trả số lãi là 40 triệu đồng). Theo phương pháp gộp này, NHTM Y đã thực hiện cào bằng tổng lãi cho tất cả các kỳ hạn mà ông A phải trả số tiền lãi bằng 40 triệu. Tuy nhiên, tổng tiền lãi ông A phải thanh toán cho NHTM Y là 160 triệu đồng (Bảng 2). Từ ví dụ trên cho thấy, để NHTM X và NHTM Y cạnh tranh công bằng với nhau, khi tính lãi theo phương pháp gộp thì NHTM Y sẽ phải điều chỉnh giảm lãi suất cho vay từ 10%/năm, xuống còn 8,75%/ năm. Như vậy, nhìn vào mức lãi suất cho vay mà hai ngân hàng trên đưa ra, khách hàng thấy có sự chênh lệch đáng kể, lãi suất theo dư nợ ban đầu (dư nợ gốc) hấp dẫn hơn so với lãi suất tính theo dư nợ giảm dần (dư nợ thực tế). Tuy nhiên, thực tế số tiền khách hàng phải trả khi ngân hàng tính lãi theo dự nợ ban đầu cao hơn rất nhiều so với việc tính lãi theo dư nợ thực tế.